Sau chẩn đoán và điều trị ung thư vú sống được bao lâu?

Một trong những câu hỏi đầu tiên mà nhiều người đặt ra sau khi được chẩn đoán và điều trị ung thư vú có thể sống được bao lâu?

Hầu hết các trường hợp ung thư vú đều có khả năng điều trị cao, đặc biệt khi được bác sĩ chẩn đoán ở giai đoạn đầu. Nhiều người sống thêm trong nhiều năm hoặc thậm chí nhiều thập kỷ sau khi được chẩn đoán và điều trị ung thư vú . Thông thường, bác sĩ chẩn đoán và điều trị tình trạng này càng sớm thì triển vọng của một người càng tốt.

Các cuộc hẹn tái khám thường xuyên rất quan trọng để theo dõi sức khỏe của một người sau khi điều trị ung thư vú.

1. Chăm sóc theo dõi sau điều trị ung thư vú

Sau khi được điều trị ung thư vú nên tham gia các cuộc hẹn tái khám thường xuyên để bác sĩ theo dõi sự phục hồi của họ; kiểm tra các dấu hiệu cho thấy ung thư đã quay trở lại hoặc bắt đầu phát triển trở lại; xác định và quản lý các tác dụng phụ từ phương pháp điều trị…

Bác sĩ sẽ hỏi về sức khỏe và tiến hành khám sức khỏe để kiểm tra các tác dụng phụ của việc điều trị hoặc các dấu hiệu cho thấy ung thư đã quay trở lại hoặc bắt đầu phát triển. Bác sĩ có thể yêu cầu xét nghiệm máu , xét nghiệm hình ảnh hoặc các xét nghiệm khác nếu cần thiết.

1.1 Kiểm tra sự tái phát và phát triển của ung thư vú

Sau chẩn đoán và điều trị ung thư vú sống được bao lâu?- Ảnh 1.

Các giai đoạn ung thư vú.

Theo TS. BSCKII Nguyễn Văn Hùng – Trưởng khoa khám bệnh theo yêu cầu, Bệnh viện K Trung ương cơ sở Tân Triều, ung thư vú được phân loại thành 4 giai đoạn:

Giai đoạn I: khối u ung thư có kích thước nhỏ hơn 2 cm và thường nằm khu trú trong vú. Theo đó, nếu phát hiện bệnh ở giai đoạn này, bệnh nhân có tiên lượng tốt với tỷ lệ sống sót sau 5 năm là khoảng 98%.

Giai đoạn II : Khối u ở giai đoạn này đã phát triển lớn hơn giai đoạn I (kích thước khoảng 2-5 cm) và đã bắt đầu lây lan đến các hạch bạch huyết dưới cánh tay cùng bên với vú bị bệnh. Lúc này, khoảng 90% bệnh nhân có thể sống thêm ít nhất 5 năm sau khi chẩn đoán bệnh.

Giai đoạn III : Còn gọi là giai đoạn ung thư vú tiến triển cục bộ. Khối u giai đoạn 3 có kích thước lớn hơn 5 cm và đã lan rộng ra thành ngực, da vú hoặc các hạch bạch huyết. Ở giai đoạn này, tỷ lệ sống sót sau 5 năm của bệnh nhân là hơn 70%.

Giai đoạn IV : Đây là giai đoạn cuối cùng của ung thư vú. Lúc này, tế bào ung thư đã di căn đến một hoặc nhiều cơ quan xa trong cơ thể, phổ biến nhất là xương, phổi và gan. Nhìn chung, bệnh ở giai đoạn 4 không có khả năng chữa khỏi hoàn toàn và tiên lượng sống của bệnh nhân cũng thường không cao. Tỷ lệ sống sót sau 5 năm vào khoảng 25%.

Tuy nhiên, Cơ sở dữ liệu Giám sát, Dịch tễ học và Kết quả Cuối cùng của Viện Ung thư Quốc gia (NCI) phân loại ung thư vú thành ba giai đoạn dựa trên mức độ lan rộng của khối u, bao gồm:

  • Khu trú: Điều này có nghĩa là ung thư dường như không lan ra ngoài vú.
  • Khu vực: Điều này có nghĩa là ung thư đã lan từ vú đến các hạch hoặc cấu trúc bạch huyết gần đó.
  • Xa: Có nghĩa là ung thư đã di căn lan từ vú đến các bộ phận xa của cơ thể, chẳng hạn như xương, gan hoặc phổi.

Hầu hết các trường hợp ung thư vú khu trú và khu vực đều có thể chữa khỏi bằng điều trị. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, ung thư vú tái phát sau lần điều trị ban đầu. Điều này được gọi là tái phát ung thư vú.

Nếu ung thư vú lan đến các cơ quan ở xa thì không thể chữa được. Điều đó nói lên rằng, việc điều trị có thể giúp làm chậm sự phát triển của khối u và đôi khi làm chúng thu nhỏ lại. Các khối u có thể bắt đầu phát triển trở lại nếu việc điều trị ngừng hiệu quả.

Các bác sĩ có thể kê đơn thuốc dài hạn và đề nghị thay đổi lối sống để giúp giảm nguy cơ tái phát hoặc phát triển ung thư.

Nếu bị ung thư tái phát hoặc khối u bắt đầu phát triển trở lại, bác sĩ có thể giúp họ hiểu các lựa chọn điều trị. Chẩn đoán và điều trị sớm là quan trọng.

1.2 Quản lý tác dụng phụ của điều trị ung thư vú

Sau chẩn đoán và điều trị ung thư vú sống được bao lâu?- Ảnh 3.

Xạ trị là một trong những phương pháp điều trị ung thư vú.

Phương pháp điều trị ung thư vú có thể gây ra nhiều tác dụng phụ. Một số tác dụng phụ có thể tồn tại trong thời gian ngắn và tự khỏi nhưng cũng có những người có thể yêu cầu điều trị để quản lý để điều chỉnh chế độ dùng thuốc nếu bệnh nhân gặp tác dụng phụ do thuốc, giới thiệu người bệnh đến một nhà trị liệu vật lý nếu chức năng thể chất của người bệnh suy giảm sau khi điều trị và người bệnh có thể được phẫu thuật tái tạo vú nếu họ không hài lòng với hình dạng hoặc hình dáng của vú sau phẫu thuật ung thư vú

Ung thư vú và các phương pháp điều trị ung thư cũng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của bệnh nhân. Nếu người bệnh đang gặp khó khăn về sức khỏe tâm thần, bác sĩ có thể kê đơn thuốc, tư vấn hoặc kết hợp cả hai.

Bệnh nhân ung thư vú nên cho bác sĩ biết về bất kỳ thay đổi nào về sức khỏe thể chất hoặc tinh thần trong các cuộc hẹn tái khám, ngay cả khi người bệnh không chắc chắn rằng những thay đổi đó có liên quan đến ung thư vú hoặc phương pháp điều trị ung thư. Một số tác dụng phụ của điều trị có thể mất vài tháng hoặc nhiều năm mới xuất hiện.

2. Sau chẩn đoán và điều trị ung thư vú sống được bao lâu?

Sau chẩn đoán và điều trị ung thư vú sống được bao lâu?- Ảnh 4.

Tỷ lệ sống của người bệnh ung thư không chỉ dựa trên giai đoạn ung thư mà còn dựa trên nhiều yếu tố.

Các nhà khoa học sử dụng tỷ lệ sống sót tương đối để giúp những người mắc bệnh ung thư vú tìm hiểu về triển vọng. Ví dụ, tỷ lệ sống thêm sau 5 năm cho biết có bao nhiêu người mắc bệnh ung thư vú vẫn còn sống sau 5 năm kể từ khi được chẩn đoán so với những người không mắc bệnh ung thư vú.

Tỷ lệ sống như vậy là ước tính mà các nhà khoa học phát triển bằng cách sử dụng dữ liệu về bệnh ung thư vú. Một số khối u ung thư vú có những đặc điểm khiến chúng dễ điều trị hơn những khối u khác.

2.1 Tỷ lệ sống sót chung:

Tỷ lệ sống sót sau 5 năm

Tỷ lệ sống sót sau 10 năm

Ung thư vú tổng thể

89,9%

84,4%

Ung thư vú khu trú

98,8%

96,4%

Ung thư vú vùng

85,4%

75,8%

Ung thư vú di căn

27,7%

14,4%

Điều này có nghĩa là hầu hết những người mắc bệnh ung thư vú đều sống sót ít nhất 10 năm sau khi được chẩn đoán.

Tỷ lệ sống sót đối với ung thư vú ở xa thấp hơn so với bệnh cục bộ hoặc khu vực. Mặc dù vậy, hơn ¼ số người mắc bệnh ung thư vú di căn vẫn sống được ít nhất 5 năm.

Nghiên cứu gợi ý rằng tỷ lệ sống sót của những người mắc bệnh ung thư ở xa đã được cải thiện nhờ những tiến bộ trong điều trị. Khi các lựa chọn điều trị tiếp tục được cải thiện, tỷ lệ sống sót cũng có thể được cải thiện. Tỷ lệ sống sót hiện tại có thể cao hơn dữ liệu mới nhất cho thấy.

Các bác sĩ không thể biết chắc chắn bệnh nhân ung thư vú sẽ sống được bao lâu. Tuy nhiên, bác sĩ có thể ước tính triển vọng của người bệnh không chỉ dựa trên giai đoạn ung thư mà còn dựa trên các yếu tố sau:

Kích thước của khối u: Khối u lớn hơn có nhiều khả năng tái phát hơn khối u nhỏ hơn.

Cấp độ của khối u: Các bác sĩ kiểm tra các tế bào khối u dưới kính hiển vi để tìm hiểu khả năng khối u phát triển và lan rộng. Các khối u cấp độ thấp thường phát triển chậm hơn và ít có khả năng lây lan hơn các khối u cấp độ cao.

Tình trạng thụ thể hormone: Một số khối u ung thư vú dương tính với thụ thể hormone, có nghĩa là chúng cần estrogen, progesterone hoặc cả hai để phát triển. Nhờ các liệu pháp ngăn chặn hormone, những khối u này có xu hướng dễ điều trị hơn các khối u âm tính với thụ thể hormone và ít có khả năng tái phát trong vòng 5 năm sau khi điều trị.

Tình trạng thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì 2 (HER2) ở người: Một số khối u ung thư vú có nhiều protein HER2. Điều này khiến chúng phát triển và lây lan nhanh hơn. Những khối u này có xu hướng hung hãn, làm giảm tỷ lệ sống sót và tăng nguy cơ tái phát.

Phương pháp điều trị ung thư vú cũng ảnh hưởng đến cơ hội sống sót và nguy cơ tái phát của một người. Bác sĩ của một người có thể giúp họ hiểu và cân nhắc những lợi ích và rủi ro tiềm ẩn của các phương pháp điều trị khác nhau.

Các bác sĩ có thể sử dụng hệ thống tính điểm chuyên dụng, chương trình phần mềm hoặc các công cụ khác để ước tính triển vọng của người bệnh.

2.2 Những người sống sót sau ung thư vú có thể sống lâu?

Nhiều người mắc bệnh ung thư vú sống được nhiều thập kỷ sau khi được chẩn đoán và điều trị. Theo báo cáo năm 2019–2020 của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ, tỷ lệ sống sót tương đối sau 15 năm đối với những người mắc bệnh ung thư vú là 80%.

Tỷ lệ sống sót lâu dài đối với ung thư vú ở xa thấp hơn nhiều so với ung thư vú khu trú và khu vực. Theo NCI, dưới 15% những người mắc bệnh ung thư vú di căn sống được 10 năm hoặc lâu hơn. Tuy nhiên, các nhà khoa học đang liên tục cải tiến phương pháp điều trị ung thư vú ở xa.

2.3 Có thể sống được 20 năm sau khi bị ung thư vú?

Nhiều người mắc bệnh ung thư vú khu trú hoặc khu vực có thể sống thêm được 20 năm hoặc lâu hơn sau khi được chẩn đoán và điều trị.

Rất hiếm khi một người mắc bệnh ung thư vú di căn có thể sống được 20 năm. Tuy nhiên, các nhà khoa học đang tiếp tục cải tiến phương pháp điều trị ung thư vú ở xa.

3. Điều gì khiến người bệnh ung thư vú sống sót?

Sau chẩn đoán và điều trị ung thư vú sống được bao lâu?- Ảnh 5.

Hoạt động thể chất là một trong những yếu tố góp phần giảm nguy cơ tái phát và tăng khả năng sống sót ở những người bệnh ung thư vú.

TS. BSCKII Nguyễn Văn Hùng cho biết, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến triển vọng ngắn hạn và dài hạn của một người đối với bệnh ung thư vú. Ngoài các đặc điểm khối u ở trên, các yếu tố này bao gồm các yếu tố:

Tuổi: Nghiên cứu cho thấy rằng những phụ nữ mắc bệnh ung thư vú dưới 35 tuổi có xu hướng có các khối u phát triển nhanh, hung hãn và thường lan rộng vào thời điểm chẩn đoán. Triển vọng của họ có xu hướng kém hơn so với phụ nữ lớn tuổi, sau mãn kinh bị ung thư vú.

Cân nặng: Một đánh giá năm 2018 cho thấy béo phì làm tăng nguy cơ tái phát ung thư vú và tử vong do ung thư vú. Béo phì cũng làm tăng nguy cơ mắc nhiều tình trạng sức khỏe khác có thể ảnh hưởng đến khả năng sống sót cũng như nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân.

Hoạt động thể chất: Một nghiên cứu năm 2021 liên kết hoạt động thể chất với việc giảm nguy cơ tái phát và tăng khả năng sống sót ở những người mắc bệnh ung thư vú. Những người sống sót tập thể dục 2–5 ngày mỗi tuần có khả năng tái phát thấp hơn 63% so với những người sống sót không hoạt động.

Chế độ ăn uống: Một đánh giá năm 2018 tìm thấy bằng chứng hạn chế cho thấy chế độ ăn ít chất béo có thể giúp ngăn ngừa tái phát ung thư vú. Ăn một chế độ ăn uống cân bằng, giàu chất dinh dưỡng cũng có lợi cho sức khỏe thể chất và tinh thần tổng thể.

Rượu: Theo đánh giá năm 2016, một số nghiên cứu về việc tiêu thụ rượu ở những người sống sót sau ung thư vú đều cho thấy mối liên hệ giữa việc uống rượu với việc tăng nguy cơ tái phát.

Do đó, thực hành các yếu tố lối sống lành mạnh có thể giúp giảm nguy cơ tái phát và cải thiện khả năng sống sót ở những người mắc bệnh ung thư vú.

Nhờ chẩn đoán và điều trị sớm, nhiều người mắc bệnh ung thư vú có thể sống được hàng chục năm sau khi biết mình mắc bệnh. Tỷ lệ sống sót đặc biệt cao đối với những người bị ung thư vú khu trú hoặc khu vực chưa lan đến các cơ quan ở xa. Tuy nhiên, khả năng sống sót đang được cải thiện đối với những người bị ung thư vú ở xa.

Sau khi điều trị ung thư vú, điều quan trọng là những người sống sót phải đến tái khám với bác sĩ. Điều này cho phép các bác sĩ quản lý các tác dụng phụ tiềm ẩn của việc điều trị và kiểm tra các dấu hiệu cho thấy ung thư vú đã quay trở lại hoặc bắt đầu phát triển trở lại.

Bác sĩ cũng có thể tư vấn các biện pháp để giảm nguy cơ tái phát và cải thiện triển vọng chung của người bệnh ung thư vú thông qua thay đổi lối sống.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *